|
CHÍNH PHỦ
---------
|
|
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
||
|
Số 89/1998/NĐ-CP
|
|
---------------------------------------------------------------------------------------
|
TH.310
|
|
|
|
|
Hà Nội, ngày 07 tháng
11 năm 1998
|
||
NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ
Ban hành Quy chế về tạm giữ, tạm giam
___
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9
năm 1992;
Căn cứ Bộ Luật Tố tụng hình sự nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam ;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công an và Bộ trưởng
Bộ Quốc phòng,
NGHỊ ĐỊNH :
Điều 1. Nay ban hành kèm
theo Nghị định này ''Quy chế về tạm giữ, tạm giam''.
Điều 2. Nghị định này thay thế Nghị định số 149/HĐBT ngày 05 tháng 5 năm 1992 của Hội đồng Bộ trưởng,
có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký.
Điều 3. Bộ Công an, Bộ Quốc phòng phối hợp với các cơ quan hữu quan hướng
dẫn, theo dõi, kiểm tra việc thi hành Nghị định này.
Điều 4. Bộ trưởng các Bộ : Công an, Quốc phòng, Tài chính, Y tế và Thủ
trưởng các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan thuộc Chính phủ có liên quan và Chủ tịch
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi
hành Nghị định này ./.
TM. CHÍNH PHỦ
THỦ TƯỚNG
Nơi nhận :
- Thường vụ Bộ Chính trị,
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ,
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ,
cơ quan
thuộc Chính phủ,
- HĐND, UBND các tỉnh, thành phố (đã
ký)
trực
thuộc Trung ương,
- Văn phòng Quốc hội,
- Văn phòng Chủ tịch nước,
- Văn phòng TW và các Ban của Đảng, Phan Văn Khải
- Viện Kiểm sát nhân dân tối cao,
- Tòa án nhân dân tối cao,
- Cơ quan Trung ương của các đoàn thể,
- Công báo,
- VPCP : BTCN, các PCN, các Cục, Vụ,
- Lưu :
NC (3b), VT.
|
CHÍNH PHỦ
---------
|
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
||
|
|
|
---------------------------------------------------------------------------------
|
Nc
|
|
QUY CHẾ VỀ TẠM GIỮ, TẠM GIAM
(Ban hành kèm theo Nghị định số 89/1998/NĐ-CP
ngày 07 tháng 11 năm 1998 của Chính phủ)
‑‑____
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Tạm giữ, tạm giam là
những biện pháp ngăn chặn được quy định trong Bộ Luật Tố tụng hình sự do Cơ
quan điều tra, Viện Kiểm sát hoặc Tòa án áp dụng nhằm buộc những người có Lệnh
tạm giữ hoặc Lệnh tạm giam cách ly khỏi xã hội trong một thời gian nhất định để
ngăn chặn hành vi phạm tội, hành vi gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố,
xét xử hoặc đảm bảo thi hành án phạt tù hoặc án tử hình.
Điều 2.
1. Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường
hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang và đối với họ đã có Lệnh tạm giữ.
2. Người bị tạm giam là bị can, bị cáo, người bị
kết án tù hoặc tử hình bị bắt để tạm giam và đối với họ đã có Lệnh tạm giam.
Điều 3.
1. Nhà tạm giữ là nơi tạm giữ những người quy định
tại khoản 1 Điều 2 Quy chế này và những người bị bắt theo Lệnh truy nã (gọi
chung là người bị tạm giữ, tạm giam). Trong Nhà tạm giữ còn có một số buồng
để tạm giam bị can, bị cáo thuộc quyền điều tra, truy tố, xét xử của cơ quan tiến
hành tố tụng hình sự cấp huyện.
Nhà tạm giữ của Công an huyện, quận, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi là công an cấp huyện) là nơi giam, giữ
những đối tượng thuộc thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử của Cơ quan điều
tra, Viện Kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân cấp huyện. Nhà tạm giữ ở Bộ Chỉ
huy quân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cấp tương đương là nơi
giam, giữ những đối tượng thuộc thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử của Cơ
quan điều tra, Viện Kiểm sát và Tòa án trong Quân đội nhân dân.
2. Buồng tạm giữ ở Đồn biên phòng là nơi tạm giữ
những người trong diện quy định tại khoản 1 Điều 2 Quy chế này do chỉ huy Đồn
biên phòng ở hải đảo và biên giới ra Lệnh tạm giữ và những người bị bắt theo Lệnh
truy nã.
Điều 4. Trại tạm giam là nơi
giam, giữ những người thuộc diện quy định tại khoản 2 Điều 2 Quy chế này, những
người bị kết án tù hoặc tử hình đang chờ thi hành án. Trong Trại tạm giam có một
số buồng để tạm giữ người được quy định tại khoản 1 Điều 2 Quy chế này và những
người bị bắt theo Lệnh truy nã.
Trại tạm giam thuộc Bộ Công an và Trại tạm giam
ở Công an cấp tỉnh giam, giữ những đối tượng thuộc thẩm quyền điều tra, truy tố,
xét xử của Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân và Toà án nhân dân. Trại tạm
giam quân sự giam, giữ những đối tượng
thuộc thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử của Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát
và Tòa án trong Quân đội nhân dân.
Điều 5. Nhà tạm giữ, Trại tạm
giam chỉ tiếp nhận giam, giữ những người đã có Lệnh tạm giữ, Lệnh tạm giam hoặc
Lệnh truy nã. Người bị tạm giữ và người bị tạm giam không được giam, giữ chung
trong cùng một buồng. Việc tạm giữ, tạm giam phải theo đúng quy định của pháp
luật. Nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự,
nhân phẩm của những người bị tạm giữ, tạm giam.
Chương II
TỔ CHỨC NHÀ TẠM GIỮ, TRẠI TẠM GIAM
MỤC A
TỔ CHỨC NHÀ TẠM GIỮ
Điều 6.
1. Mỗi Công an cấp huyện; mỗi Bộ chỉ huy quân sự
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cấp tương đương được tổ chức một Nhà tạm
giữ. Nhà tạm giữ có một số buồng tạm giam và phải treo biển "Buồng tạm
giam". Đối với nhà tạm giữ thường xuyên có từ 30 người
bị tạm giữ, tạm giam trở lên được bố trí thêm buồng để quản lý phạm nhân phục vụ
việc nấu ăn, đưa cơm, vận chuyển quà và đồ dùng sinh hoạt, làm vệ sinh, sửa chữa
nhà tạm giữ, phục vụ các yêu cầu cầu nghiệp vụ giam, giữ và phải treo biển “Buồng
quản lý phạm nhân”.
Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ quốc phòng quyết định cụ thể nhà tạm giữ được bố trí buồng quản lý phạm nhân và quy định
quy mô, tiêu chuẩn phạm nhân tại buồng này. Chế độ quản lý, giáo dục và chế độ
khác có liên quan đối với phạm nhân để ở nhà tạm giữ thực hiện theo quy định của
pháp luật về thi hành án phạt tù. Đồn biên phòng ở biên giới, hải đảo xa trung
tâm hành chính cấp huyện thì được lập buồng tạm giữ. Buồng tạm giữ ở Đồn biên
hòng phải treo biển “Bồng tạm giữ.
2. Nhà tạm giữ có Trưởng Nhà tạm giữ, Phó trưởng
Nhà tạm giữ, cán bộ làm công tác quản lý, y tế và chiến sĩ vũ trang canh gác bảo
vệ. Đối với Nhà tạm giữ thường xuyên có từ 50 người bị tạm giữ, tạm giam trở
lên được bố trí thêm cán bộ làm công tác hồ sơ, trinh sát, tổng hợp, hậu cần
....
Việc bổ nhiệm, phân công, bố trí công tác, biên
chế cụ thể ở Nhà tạm giữ do Bộ trưởng Bộ Công an và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng căn
cứ điều kiện từng địa phương quy định.
3. Buồng tạm giữ ở Đồn biên phòng do Đồn trưởng
Đồn biên phòng trực tiếp quản lý. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Đồn trưởng
Đồn biên phòng trong việc quản lý tạm giữ được thực hiện như quy định đối với
Trưởng Nhà tạm giữ. Chế độ đối với người bị tạm giữ và chế độ quản lý tạm giữ của
Buồng tạm giữ ở Đồn biên phòng được thực hiện theo các quy định tại Quy chế
này.
Những Đồn biên phòng không có Buồng tạm giữ khi
cần tạm giữ người có dấu hiệu phạm tội theo thẩm quyền được pháp luật quy định
thì Chỉ huy Đồn biên phòng phải cử người dẫn giải họ đến Nhà tạm giữ, Trại tạm
giam gần nhất để tạm giữ theo quy định. Bộ Công an và Bộ Quốc phòng phối hợp hướng
dẫn thực hiện quy định này.
Điều 7.
1. Trưởng Nhà tạm giữ có nhiệm vụ, quyền hạn
sau :
a) Điều hành và chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt
động của Nhà tạm giữ do mình quản lý theo quy định của pháp luật;
b) Thực hiện việc giam, giữ, trả tự do cho người
bị tạm giữ, tạm giam, khi có Lệnh hoặc Quyết định của người có thẩm quyền theo
quy định của pháp luật tố tụng hình sự;
c) Tổ chức, tạo điều kiện cho người đang bị tạm
giữ, tạm giam thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật;
d) Thông báo bằng văn bản cho cơ quan đang thụ
lý vụ án có người bị tạm giữ, tạm giam biết việc hết thời hạn tạm giữ trước 1
ngày, việc hết thời hạn tạm giam lần thứ nhất trước 5 ngày, việc hết thời hạn tạm
giam lần thứ hai trước 10 ngày và yêu cầu cơ quan đang thụ lý vụ án đến nhận hoặc
giải quyết các trường hợp hết thời hạn tạm giữ, tạm giam. Trường hợp cơ quan
đang thụ lý vụ án không giải quyết các trường hợp hết hạn tạm giữ, tạm giam thì
kiến nghị ngay lên cấp trên có thẩm quyền của cơ quan đó giải quyết;
đ) Giao người bị tạm giữ, tạm giam theo Lệnh
trích xuất của người có thẩm quyền;
e) Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan có liên
quan để phục vụ yêu cầu điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án phạt tù;
g) Báo cáo lên cơ quan có thẩm quyền đối với
các trường hợp xét thấy quyết định giam, giữ, trả tự do là trái pháp luật;
h) Tiến hành các hoạt động khác theo quy định của
pháp luật.
2. Phó trưởng Nhà tạm giữ có trách nhiệm giúp
Trưởng Nhà tạm giữ theo sự phân công của Trưởng Nhà tạm giữ.
Điều 8. Trưởng Nhà tạm giữ,
Phó trưởng Nhà tạm giữ, cán bộ làm công tác quản giáo, y tế, hồ sơ, tổng hợp,
trinh sát, hậu cần và chiến sĩ vũ trang canh gác bảo vệ phải có phẩm chất chính
trị tốt, có ý thức tổ chức kỷ luật, đã được đào tạo về chuyên môn và hiểu biết
pháp luật.
Điều 9. Nhà tạm giữ, Buồng tạm
giữ ở Đồn biên phòng được thiết kế, xây dựng kiên cố, có khóa cửa, đủ ánh sáng,
bảo đảm sức khỏe của người bị giam, giữ, vệ sinh môi trường, an toàn phòng
cháy, chữa cháy, phù hợp với đặc điểm khí hậu của từng địa phương và yêu cầu an
toàn của công tác quản lý giam, giữ. Tiêu chuẩn cụ thể của Nhà tạm giữ, Buồng tạm
giữ ở Đồn biên phòng do Bộ Công an, Bộ Quốc phòng quy định.
MỤC B
TỔ CHỨC TRẠI TẠM GIAM
Điều 10.
1. Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, mỗi Công an tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Công an cấp tỉnh), Quân
khu, Quân đoàn và cấp tương đương trong Quân đội nhân dân được tổ chức một hoặc
hai Trại tạm giam. Trại tạm giam có buồng riêng để giam người có án tử hình và
có một số buồng để tạm giữ những người có Lệnh tạm giữ, người đã có quyết định
thi hành án phạt tù đang chờ chuyển đi Trại giam. Những buồng giam, giữ này phải
được treo biển "Buồng tạm giữ", "Buồng giam người có án tử
hình", "Buồng giam người chờ chuyển đi Trại giam".
Bộ trưởng Bộ Công an quyết định thành lập, giải
thể, quy định quy mô giam giữ, nội quy của Trại tạm giam thuộc Bộ Công an và Trại
tạm giam ở Công an cấp tỉnh. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định thành lập, giải
thể, quy định quy mô giam giữ, nội quy của Trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng và
Trại tạm giam ở Quân khu, Quân đoàn và cấp tương đương trong Quân đội nhân dân.
2. Trại tạm giam có Giám thị, Phó giám thị, Quản
giáo, nhân viên, kỹ thuật viên, Sĩ quan, Hạ sĩ quan, chiến sĩ vũ trang canh gác
bảo vệ. Việc bổ nhiệm, phân công công tác, biên chế cụ thể do Bộ trưởng Bộ Công
an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định.
Điều 11.
1. Giám thị Trại tạm giam có nhiệm vụ, quyền hạn
sau :
a) Điều hành và chịu trách nhiệm toàn bộ hoạt động
của Trại tạm giam theo đúng quy định của pháp luật;
b) Thực hiện việc giam, giữ, trả tự do cho người
bị tạm giam, tạm giữ khi có Lệnh hoặc Quyết định của người có thẩm quyền theo
quy định của pháp luật tố tụng hình sự;
c) Tổ chức cho người đang bị giam, giữ thực hiện
các quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định của pháp luật; chuyển kiến nghị,
kháng cáo đối với bản án xét xử sơ thẩm, phúc thẩm của người bị tạm giam tới cơ
quan có thẩm quyền giải quyết trong thời hạn luật định;
d) Thông báo bằng văn bản cho cơ quan đang thụ
lý vụ án có người bị tạm giữ, tạm giam, biết việc hết thời hạn tạm giữ trước 1
ngày, việc hết thời hạn tạm giam lần thứ nhất trước 5 ngày, việc hết thời hạn tạm
giam lần thứ hai trước 10 ngày và yêu cầu cơ quan thụ lý vụ án đến nhận hoặc giải
quyết các trường hợp hết thời hạn tạm giam, tạm giữ. Trường hợp cơ quan đang thụ
lý vụ án không giải quyết các trường hợp hết hạn tạm giam, tạm giữ thì kiến nghị
ngay lên cấp trên có thẩm quyền của cơ quan đó giải quyết;
đ) Giao người bị tạm giam, tạm giữ theo Lệnh
trích xuất của người có thẩm quyền;
e) Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan có liên
quan phục vụ tốt yêu cầu điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án phạt tù hoặc tử
hình;
g) Báo cáo lên cơ quan có thẩm quyền đối với
các trường hợp xét thấy quyết định giam, giữ, trả tự do là trái pháp luật;
h) Tiến hành các hoạt động khác theo quy định của
pháp luật.
2. Phó giám thị Trại tạm giam có trách nhiệm
giúp Giám thị Trại tạm giam theo sự phân công của Giám thị Trại tạm giam.
Điều 12. Giám thị, Phó giám
thị, Quản giáo, nhân viên, kỹ thuật viên, Sĩ quan, Hạ sĩ quan, chiến sĩ vũ
trang canh gác bảo vệ Trại tạm giam phải có phẩm chất chính trị tốt, có ý thức
tổ chức kỷ luật, hiểu biết pháp luật và có nghiệp vụ chuyên ngành.
Giám thị, Phó giám thị Trại tạm giam phải là
người đã tốt nghiệp Đại học Cảnh sát, Đại học An ninh, Đại học Luật hoặc tương
đương trở lên và có kinh nghiệm về công tác quản lý tạm giam, tạm giữ.
Quản giáo và chỉ huy lực lượng bảo vệ Trại tạm
giam phải là người đã tốt nghiệp Trung học Cảnh sát, Trung học An ninh hoặc
tương đương trở lên và được đào tạo về nghiệp vụ chuyên ngành.
Sĩ quan, Hạ sĩ quan, chiến sĩ làm nhiệm vụ canh
gác bảo vệ Trại tạm giam phải được đào tạo về nghiệp vụ bảo vệ chuyên ngành.
Điều 13. Trại tạm giam được
thiết kế, xây dựng kiên cố, có đủ ánh sáng, bảo đảm vệ sinh môi trường và sức
khỏe cho người bị tạm giam, tạm giữ, an toàn phòng cháy, chữa cháy, phù hợp với
đặc điểm khí hậu của từng địa phương và yêu cầu an toàn của công tác quản lý
giam, giữ. Tiêu chuẩn cụ thể của Trại tạm giam do Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng
Bộ Quốc phòng quy định.
Điều 14. Trại tạm giam được tổ
chức bệnh xá để khám và chữa bệnh cho người đang bị giam, giữ. Trại tạm giam
thuộc Công an thành phố Hà Nội và Công an thành phố Hồ Chí Minh được tổ chức bệnh
viện để khám, chữa bệnh cho người đang bị giam, giữ ở các Trại tạm giam, Nhà tạm
giữ theo quy định của Bộ Công an và Bộ Y tế.
Chương III
CHẾ ĐỘ QUẢN LÝ TẠM GIỮ, TẠM GIAM
Điều 15.
1. Việc giam, giữ bố trí theo khu vực và phân
loại như sau :
- Phụ nữ;
- Người chưa thành niên;
- Người nước ngoài;
- Người có bệnh truyền nhiễm nguy hiểm;
- Loại côn đồ hung hãn, giết người, cướp tài sản,
tái phạm nguy hiểm;
- Người phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia;
- Người bị Tòa án tuyên phạt tử hình;
- Người có án phạt tù chờ chuyển đi Trại giam.
2. Không được giam, giữ chung buồng những người
trong cùng một vụ án đang điều tra, truy tố, xét xử. Việc giam, giữ riêng từng
người do cơ quan đang thụ lý vụ án quyết định. Người nước ngoài bị tạm giữ, tạm
giam có thể được giam, giữ ở buồng riêng trong Nhà tạm giữ, Trại tạm giam.
3. Mỗi trại tạm giam có một cơ sở chấp hành
hình phạt tù (gọi là Phân trại quản lý phạm nhân) để thường xuyên phục vụ
việc nấu ăn, đưa cơm, vận chuyển đồ tiếp tế, làm vệ sinh, sửa chữa, xây dựng trại
tạm giam và phục vụ các yêu cầu nghiệp vụ giam, giữ. Việc thi hành án phạt tù ở
Phân trại quản lý phạm nhân phải thực hiện theo Pháp lệnh thi hành án phạt tù
và Quy chế Trại giam. Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định
thành lập, giải thể phân trại quản lý phạm nhân trong trại
tạm giam và quy định quy mô, tiêu chuẩn phạm nhân, của phân trại quản lý phạm
nhân trong trại tạm giam.
Điều 16. Khi tiếp nhận người
bị tạm giữ, tạm giam thì Trưởng Nhà tạm giữ, Giám thị Trại tạm giam phải thực
hiện các việc sau :
- Xem xét Lệnh tạm giữ, Lệnh tạm giam, Lệnh
truy nã và các tài liệu, thủ tục cần thiết khác để bảo đảm giam giữ đúng người,
đúng pháp luật;
- Lập biên bản giao nhận hồ sơ và giao nhận người
bị tạm giữ, tạm giam, đồng thời xác định tình trạng sức khỏe của họ;
- Lập danh chỉ bản, chụp ảnh và vào sổ theo dõi
danh sách người bị tạm giữ, tạm giam;
- Phổ biến nội quy Nhà tạm giữ, Trại tạm giam
cho người bị tạm giữ, tạm giam, kiểm tra thân thể và đồ vật mang theo của họ
trước khi đưa họ vào buồng giam, giữ. Việc kiểm tra thân thể người bị tạm giữ,
tạm giam là nam giới do cán bộ nam thực hiện, là nữ giới do cán bộ nữ thực hiện
và được tiến hành ở phòng kín.
Điều 17. Người bị tạm giữ, tạm
giam chỉ được đưa vào buồng giam, giữ những đồ dùng cần thiết cho cá nhân theo
quy định của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng. Tiền và các tài sản khác của họ mang
theo phải gửi lưu ký tại nơi quy định của Nhà tạm giữ, Trại tạm giam hoặc ủy
quyền cho thân nhân họ quản lý. Những vật không thể bảo quản được trong thời hạn
giam, giữ và những vật thuộc danh mục cấm mang vào buồng giam, giữ nếu phải hủy
bỏ thì Trưởng Nhà tạm giữ, Giám thị Trại tạm giam phải ra quyết định hủy bỏ bằng
văn bản. Khi hủy bỏ phải có sự chứng kiến của người bị tạm giữ, tạm giam và phải
lập biên bản về việc hủy bỏ. Nếu họ được trả tự do hoặc chuyển nơi giam, giữ
khác thì phải trả lại tiền hoặc các tài sản khác đã gửi lưu ký. Trường hợp Nhà
tạm giữ, Trại tạm giam làm hư hỏng hoặc mất mát tiền hoặc tài sản gửi lưu ký của
người bị tạm giữ, tạm giam thì phải bồi thường cho họ.
Điều 18.
1. Nhà tạm giữ, Trại tạm giam phải được bảo vệ
nghiêm ngặt. Trưởng Nhà tạm giữ, Giám thị Trại tạm giam bố trí cán bộ chiến sĩ
làm nhiệm vụ 24/24 giờ trong ngày để quản lý, tuần tra, canh gác, kiểm tra từng
buồng giam, giữ và toàn bộ khu vực giam, giữ, giải quyết kịp thời các việc đột
xuất xảy ra.
2. Người bị tạm giữ, tạm giam đều phải ở trong
buồng giam, giữ. Chỉ khi có lệnh của Trưởng Nhà tạm giữ, Giám thị Trại tạm giam
mới được cho họ ra khỏi buồng giam, giữ để thực hiện Lệnh trích xuất hay để
thay đổi không khí, tắm giặt, khám, chữa bệnh, làm vệ sinh buồng giam, giữ.
Không được sử dụng người bị tạm giữ, tạm giam làm các việc trái quy định của
pháp luật.
Điều 19.
1. Việc quay phim, chụp ảnh, ghi hình, ghi âm,
phỏng vấn tại khu vực Nhà tạm giữ, Trại tạm giam phải tuân theo quy định của Bộ
trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
2. Cán bộ, chiến sĩ công tác ở Nhà tạm giữ, Trại
tạm giam không có nhiệm vụ và mọi người khác, nếu không được phép của Trưởng
Nhà tạm giữ, Giám thị Trại tạm giam thì không được vào khu vực buồng giam, giữ,
không được tiếp xúc với người bị tạm giữ, tạm giam. Trường hợp được phép vào
khu vực buồng giam, giữ và tiếp xúc với người bị tạm giữ, tạm giam thì phải có
cán bộ hướng dẫn và phải tuân theo sự hướng dẫn của cán bộ đó. Nhà tạm giữ, Trại
tạm giam phải lập sổ theo dõi về những trường hợp vào khu vực buồng giam, giữ
và tiếp xúc với người bị tạm giữ, tạm giam.
3. Bộ Công an, Bộ Quốc phòng phối hợp với Viện
Kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện những quy định đối với công tác
kiểm sát giam, giữ.
Điều 20.
1. Việc đưa người bị tạm giữ,
tạm giam khỏi nơi giam, giữ chỉ được thực hiện khi có Lệnh trích xuất
bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền được quy định trong pháp luật tố tụng
hình sự hoặc có văn bản của cơ quan hoặc người có thẩm
quyền thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 21 Quy chế này. Trường hợp cần cấp cứu, khám và chữa bệnh ngay cho người bị tạm giữ,
tạm giam, tại cơ sở y tế ở ngoài Nhà tạm giữ, Trại tạm giam thì Trưởng Nhà tạm
giữ, Giám thị Trại tạm giam có quyền ra Lệnh trích xuất, sau đó phải thông báo
ngay cho cơ quan đang thụ lý vụ án biết.
2. Lệnh trích xuất phải ghi rõ :
- Cơ quan, họ và tên, chức vụ, cấp bậc người ra
lệnh;
- Họ và tên, tuổi, địa chỉ, hành vi vi phạm
pháp luật, ngày bị tạm giữ, tạm giam của người được trích xuất;
- Mục đích và thời hạn trích xuất;
- Cán bộ nhận người được trích xuất.
Người ra lệnh trích xuất phải ghi rõ ngày,
tháng, năm và ký tên, đóng dấu vào Lệnh trích xuất.
3. Trưởng Nhà tạm giữ, Giám thị Trại tạm giam
phải lập sổ theo dõi việc đưa người bị tạm giữ, tạm
giam khỏi nơi giam, giữ.
Điều 21.
1. Việc trích xuất người bị tạm giam, tạm giữ để tiến hành các hoạt động ở bên
ngoài khu vực trại tạm giam, nhà tạm giữ trong các trường hợp sau:
a) Đưa đi khám, chữa bệnh,
giám định pháp y; giám định phap y tâm thần;
b) Chuyển người bị tạm giữ, tạm giam đến nơi
giam, giữ khác;
b) Để thực hiện các hoạt
động điều tra, truy tố, xét xử;
c) Cho người bị tạm
giữ, tạm giam gặp thân nhân, luật sư hoặc người bào chữa khác;
d) Cho người nước ngoài
bị tạm giữ, tạm giam tiếp xúc lãnh sự hoặc tiếp xúc với các tổ chức nhân đạo
theo quy định tại các Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia, hoặc
theo sự thỏa thuận trực tiếp của Nhà nước Việt Nam với nước có người bị tạm giữ,
tạm giam hoặc với tổ chức nhân đạo về từng trường hợp cụ thể.
2. Ngoài những trường hợp trích xuất quy định
tại Khoản 1 Điều này, Trưởng nhà tạm giữ, Giám thị Trại tạm giam có trách nhiệm
bàn giao người bị tạm giữ, tạm giam trong các trường hợp dưới đây:
a) Khi có quyết định của cơ quan quản lý trại
giam đưa người bị kết án phạt tù đến trại giam;
b) Khi có quyết định của Hội đồng thi hành án
tử hành đưa người bị kết án tử hình đi thi hành án tử hình;
c) Khi có quyết định của cơ quan thụ lỳ vụ án
chuyển người bị tạm giữ, tạm giam đến nơi giam, giữ khác;
d) Để tiến hành các hoạt động quy định tại
Khoản 1 Điều này ở bên trong khu vực nhà tạm giữ, trại tạm giam. Trong trường hợp
đó, Trưởng Nhà tạm giữ, giám thị Trại tạm giam căn cứ vào quyết định phân công
thụ lý vụ án, văn bản của cơ quan đang thụ lý vụ án đồng ý cho thân nhân, luật
sư, người bào chữa khác, đại diện cơ quan, tổ chức nước ngoài thăm gặp, tiếp
xúc với người bị tạm giữ, tạm giam để quyết định đưa người bị tạm giữ, tạm giam
ra khỏi buồng giam, giữ”.
Điều 22.
1. Trưởng Nhà tạm giữ, Giám thị Trại tạm giam
yêu cầu cán bộ thực hiện Lệnh trích xuất giao đầy đủ các văn bản hợp pháp theo
các trường hợp nêu tại Điều 21 để xem xét, kiểm tra nhằm bảo đảm trích xuất
đúng người và lập thủ tục giao nhận người được trích xuất, có ghi rõ tình trạng
sức khỏe của người đó.
2. Người bị tạm giữ, tạm giam có thể được gặp
thân nhân, luật sư hoặc người bào chữa khác và do cơ quan đang thụ lý vụ án quyết
định. Trưởng Nhà tạm giữ, Giám thị Trại tạm giam quyết định thời gian gặp nhưng
không quá một giờ mỗi lần gặp. Nhà tạm giữ, Trại tạm giam phải bố trí buồng
thăm gặp trong khu vực quản lý của mình để người bị tạm giữ, tạm giam gặp thân
nhân trong trường hợp họ được phép. Luật sư hoặc người bào chữa khác được gặp
người bị tạm giữ, tạm giam theo quy định của pháp luật tại buồng làm việc của
Nhà tạm giữ, Trại tạm giam.
Người bị tạm giữ, tạm giam và thân nhân, luật
sư hoặc người bào chữa khác của người bị tạm giữ, tạm giam phải tuân thủ nội
quy gặp gỡ. Trưởng Nhà tạm giữ, Giám thị Trại tạm giam tổ chức phổ biến nội quy
gặp gỡ và cử cán bộ, chiến sĩ giám sát, đề phòng người bị tạm giữ, tạm giam bỏ
trốn hoặc giao, nhận những vật bị cấm mang ra, mang vào Nhà tạm giữ, Trại tạm
giam. Người nước ngoài bị tạm giữ, tạm giam gặp thân nhân, luật sư hoặc người
bào chữa khác thực hiện theo quy định này.
Việc người nước ngoài bị tạm giữ, tạm giam tiếp
xúc lãnh sự hoặc tiếp xúc với tổ chức nhân đạo được thực hiện theo Điều ước quốc
tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia hoặc theo sự thỏa thuận trực tiếp về từng
trường hợp cụ thể giữa Nhà nước Việt Nam với nước có người bị tạm giữ, tạm giam
hoặc với tổ chức nhân đạo. Trong các trường hợp tiếp xúc này cần có cán bộ, chiến
sĩ Nhà tạm giữ, Trại tạm giam giám sát và có thể có đại diện của cơ quan Ngoại
giao Việt Nam hoặc đại diện Hội Chữ thập đỏ Việt Nam cùng tham dự.
Điều 23. Trại tạm giam phải tổ
chức khu vực để giam những người có án tử hình. Trong trường hợp cần thiết, người
có án tử hình có thể bị cùm chân 24h/24h. Giám thị Trại tạm giam được áp dụng
các biện pháp kỹ thuật và nghiệp vụ cần thiết để ngăn ngừa người có án tử hình
bỏ trốn, tự sát hoặc có các hành vi nguy hiểm khác.
Điều 24.
1. Trưởng Nhà tạm giữ, Giám thị Trại tạm giam
căn cứ vào tính chất, nhiệm vụ công tác quản lý giam, giữ, vị trí, đặc điểm địa
bàn để tổ chức các phương án bảo vệ an toàn Nhà tạm giữ, Trại tạm giam và tổ chức
phòng bệnh, chống dịch bệnh, bảo đảm vệ sinh môi trường theo quy định. Khi có dịch
bệnh xảy ra phải thông báo ngay cho cơ quan y tế gần nhất để phối hợp dập tắt dịch
bệnh.
2. Bộ Y tế và Bộ Công an tổ chức, hướng dẫn các
cơ sở y tế thực hiện việc khám, chữa bệnh trong trường hợp dịch bệnh, ngộ độc
hàng loạt ... tại các Trại tạm giam, Nhà tạm giữ và tổ chức các phòng điều trị
riêng để tiếp nhận bệnh nhân là người bị tạm giam, tạm giữ tại các bệnh viện hoặc
cơ sở y tế khác. Trưởng Nhà tạm giữ, Giám thị Trại tạm giam bố trí cán bộ, chiến
sĩ quản lý chặt chẽ người bị tạm giữ, tạm giam trong thời gian điều trị ở cơ sở
y tế ở ngoài Nhà tạm giữ, Trại tạm giam.
Điều 25.
1. Trường hợp người bị tạm giữ, tạm giam chết tại
Nhà tạm giữ, Trại tạm giam thì Trưởng Nhà tạm giữ, Giám thị Trại tạm giam phải
tổ chức bảo vệ hiện trường, thông báo ngay cho Cơ quan điều tra và Viện Kiểm
sát biết để tiến hành xác định nguyên nhân chết. Trưởng Nhà tạm giữ, Giám thị
Trại tạm giam phải chứng kiến việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi
và thông báo cho thân nhân người chết biết. Trường hợp người chết là người nước
ngoài thì việc thông báo cho cơ quan lãnh sự và thân nhân của họ do cơ quan
đang thụ lý vụ án thực hiện.
Khi Cơ quan điều tra và Viện Kiểm sát thống nhất
cho phép chôn cất thì Trưởng Nhà tạm giữ, Giám thị Trại tạm giam làm thủ tục
khai tử với chính quyền cơ sở và tổ chức chôn cất. Trường hợp thân nhân người
chết làm đơn đề nghị và có xác nhận của chính quyền địa phương thì có thể bàn
giao thi hài đó cho họ. Việc chôn cất phải đảm bảo theo quy định của Bộ Y tế và
của chính quyền địa phương. Đối với người nước ngoài bị tạm giữ, tạm giam chết
thì giải quyết theo quy định tại Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham
gia, hoặc theo sự thỏa thuận trực tiếp về từng trường hợp cụ thể giữa Nhà nước
Việt Nam với nước có người bị tạm giữ, tạm giam chết. Trường hợp người nước
ngoài bị tạm giữ, tạm giam chết nhưng hiện chưa có Điều ước quốc tế tương ứng,
hoặc giữa Nhà nước Việt Nam và nước có người bị tạm giữ, tạm giam chết không thỏa
thuận thống nhất được về giải quyết từng trường hợp cụ thể, hoặc không xác định
được quốc tịch của người chết thì giải quyết thủ tục như đối với người Việt Nam
bị tạm giữ, tạm giam chết.
2. Kinh phí chi cho việc chôn cất do ngân sách
Nhà nước cấp, bao gồm : một quan tài bằng gỗ thường, một bộ quần áo mới và 4 m
vải liệm, rượu hoặc cồn để làm vệ sinh khi liệm xác, hương, nến và một khoản tiền
bằng 100 kg gạo tẻ loại trung bình (theo thời giá thị trường tại địa phương)
để chi phí cho việc tổ chức chôn cất.
Chương IV
CHẾ ĐỘ ĐỐI VỚI NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, TẠM GIAM
Điều 26.
1. Tiêu chuẩn ăn trong một tháng của một người
bị tạm giữ, tạm giam được tính theo định lượng là 15 kg gạo, 0,3 kg thịt và 0,5
kg cá, 0,8 kg muối, 1/2 lít nước chấm, 15 kg rau xanh và 15 kg chất đốt. Trong
các ngày lễ, Tết dương lịch (theo quy định của Nhà nước) được ăn thêm gấp
3 lần tiêu chuẩn ăn ngày thường; trong các ngày Tết nguyên đán được ăn thêm gấp
5 lần tiêu chuẩn ăn ngày thường. Các tiêu chuẩn nêu trên được tính theo thời
giá thị trường ở từng địa phương. Trưởng Nhà tạm giữ, Giám thị Trại tạm giam có
thể hoán đổi định lượng ăn nêu trên cho phù hợp với thực tế và khẩu vị của người
bị tạm giữ, tạm giam để bảo đảm họ ăn hết tiêu chuẩn.
Một tháng không qúa hai lần người bị tạm giữ,
tạm giam được nhận quà và đồ dùng sinh hoạt của thân nhân gửi đến theo
quy định; người bị tạm giữ chỉ được nhận quà và đồ dùng
sinh hoạt của thân nhân một lần trong thời gian tạm giữ; định lượng quà không được vượt quá hai lần tiêu chuẩn ăn hàng ngày.
Nghiêm cấm người bị tạm giữ, tạm giam dùng rượu, bia, thuốc lá và các chất kích
thích độc hại khác. Trưởng Nhà tạm giữ, Giám thị Trại tạm giam tổ chức tiếp nhận;
kiểm tra chặt chẽ đồ tiếp tế quà và đồ dùng sinh hoạt, loại bỏ các vật bị cấm và giao lại đầy đủ cho người bị tạm giữ,
tạm giam, kiểm tra phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi chiếm đoạt đồ tiếp tế quà và đồ dùng sinh hoạt của người bị tạm
giam, tạm giữ. Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng
quy định cụ thể quà và đồ dùng sinh hoạt mà thân nhân người bị tạm giữ, tạm giam được phép tiếp tế gửi và quy định việc tổ chức bán các thứ cần
thiết trong các Trại tạm giam. Việc sử dụng đồ tiếp tế qùa và đồ dùng sinh hoạt do thân nhân gửi được
quy định cụ thể trong nội quy nhà tạm giữ, trại tạm giam.
2. Bình quân diện tích tối thiểu nơi giam, giữ
đối với người bị tạm giữ, tạm giam là 2 m2/1 người, có bệ nằm bằng xi măng hoặc
gạch men và có chiếu trải để nằm.
3. Trong thời gian bị giam giữ, người bị tạm giữ,
tạm giam được sử dụng quần áo, chăn, chiếu, màn của cá nhân, nếu thiếu thì Nhà
tạm giữ, Trại tạm giam cho mượn theo tiêu chuẩn mỗi người gồm : 1 chiếu, 1 màn
(loại cá nhân), 1 chăn (đối với các Nhà tạm giữ, Trại tạm giam từ
thành phố Đà Nẵng trở vào dùng chăn sợi, từ Huế trở ra dùng chăn trần bông loại
2 kg), 1 đôi dép và 2 bộ quần áo dài theo mẫu thống nhất do Bộ trưởng Bộ
Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định. Hàng tháng người bị tạm giữ, tạm
giam được cấp 0,2 kg xà phòng giặt, 2 tháng được cấp 1 khăn rửa mặt. Người bị tạm
giữ, tạm giam là nữ được cấp thêm một số tiền (tương đương 2 kg gạo
tính theo thời giá thị trường ở từng địa phương) để mua những đồ dùng cần
thiết cho vệ sinh phụ nữ.
Cán bộ trực tiếp quản lý giam, giữ có trách nhiệm
hướng dẫn, yêu cầu người bị tạm giữ, tạm giam giữ gìn và bảo đảm vệ sinh những
thứ cho mượn, tổ chức thu hồi và bảo quản chu đáo khi người bị tạm giữ, tạm
giam ra khỏi Nhà tạm giữ, Trại tạm giam.
Điều 27. Nhà tạm giữ, Trại tạm
giam được tổ chức một bếp ăn, có đủ dụng cụ cần thiết. Nhà tạm giữ, Trại tạm
giam phải quản lý chặt chẽ các tài sản đó nhằm đảm bảo an toàn, tiết kiệm. Việc
tổ chức phục vụ ăn, uống đủ tiêu chuẩn định lượng và đảm bảo vệ sinh theo quy định
thống nhất của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng
Điều 28. Người bị tạm giữ, tạm
giam bị ốm đau, bệnh tật, thương tích được cán bộ y tế của Nhà tạm giữ, Trại tạm
giam khám và điều trị.
Trường hợp người bị tạm giữ, tạm giam bị ốm
đau, bệnh tật, thương tích nặng vượt quá khả năng khám và điều trị của cán bộ y
tế Nhà tạm giữ, Trại tạm giam thì Trưởng Nhà tạm giữ, Giám thị Trại tạm giam
thông báo với cơ quan đang thụ lý vụ án, đồng thời làm các thủ tục chuyển họ đến
cơ sở y tế ở ngoài để điều trị và tổ chức canh giữ họ. Chi phí khám và chữa bệnh
do Nhà tạm giữ, Trại tạm giam thanh toán với cơ sở y tế đó.
Đối với người bị tạm giữ, tạm giam nghi bị mắc
bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều
khiển hành vi của mình thì Trưởng Nhà tạm giữ, Giám thị Trại tạm giam phải yêu
cầu cơ quan đang thụ lý vụ án trưng cầu giám định pháp y tâm thần. Khi có quyết
định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh của cơ quan có thẩm quyền, cơ quan
đang thụ lý vụ án phối hợp với Nhà tạm giữ, Trại tạm giam đưa người bị tạm giữ,
tạm giam đến cơ sở chữa bệnh nêu trong Quyết định.
Điều 29. Nhà tạm giữ, Trại tạm
giam được trang bị hệ thống truyền thanh. Trung bình 20 người bị tạm giữ, tạm
giam được cấp một số báo Nhân dân hoặc báo địa phương. Trưởng Nhà tạm giữ, Giám
thị Trại tạm giam tổ chức cho người bị tạm giữ, tạm giam nghe Đài phát thanh Tiếng
nói Việt Nam, Đài phát thanh hoặc truyền thanh địa phương, đọc báo Nhân dân hoặc
báo địa phương. Nếu có điều kiện thì tổ chức cho họ xem một số chương trình
truyền hình trung ương và địa phương.
Người nước ngoài bị giam, giữ tại Nhà tạm giữ,
Trại tạm giam được nhận sách, báo bằng tiếng nước họ mang quốc tịch khi được cơ
quan thụ lý vụ án cho phép.
Điều 30. Người bị tạm giữ, tạm
giam chỉ được gửi và nhận thư khi được cơ quan đang thụ lý vụ án cho phép. Thư
phải để mở và qua sự kiểm tra của Trưởng Nhà tạm giữ, Giám thị Trại tạm giam.
Điều 31.
1. Người bị tạm giữ, tạm giam có quyền khiếu nại,
tố cáo việc tạm giữ, tạm giam trái pháp luật hoặc các hành vi trái với Quy chế
về tạm giữ, tạm giam.
2. Việc khiếu nại, tố cáo có thể bằng đơn, thư
hoặc bằng miệng với cán bộ Quản giáo, Trưởng hay Phó trưởng Nhà tạm giữ, Giám
thị hay Phó giám thị Trại tạm giam hoặc với người tiến hành tố tụng giải quyết
vụ án đó hoặc với cấp trên của Trưởng Nhà tạm giữ, Giám thị Trại tạm giam. Cán
bộ tiếp nhận lời khiếu nại, tố cáo miệng phải lập thành văn bản. Trường hợp người
bị tạm giữ, tạm giam muốn khiếu nại, tố cáo bằng đơn, thư thì Trưởng hay Phó
trưởng Nhà tạm giữ, Giám thị hay Phó giám thị Trại tạm giam hoặc người tiến
hành tố tụng giải quyết vụ án đó phải bố trí địa điểm, giấy bút để người bị tạm
giữ, tạm giam viết. Người bị tạm giữ, tạm giam còn có quyền khiếu nại, tố cáo với
Viện Kiểm sát. Đơn, thư khiếu nại, tố cáo gửi cơ quan cấp trên trực tiếp của
Nhà tạm giữ, Trại tạm giam hoặc người tiến hành tố tụng hoặc Viện Kiểm sát phải
được chuyển giao trong vòng 24 giờ. Người bị tạm giữ, tạm giam phải chịu trách
nhiệm trước pháp luật về nội dung khiếu nại, tố cáo; nếu lợi dụng quyền khiếu nại,
tố cáo để vu khống sẽ bị xử lý theo quy định pháp luật.
3. Khi nhận được đơn, thư hoặc lời khiếu nại, tố
cáo của người bị tạm giữ, tạm giam thì cá nhân hoặc cơ quan có trách nhiệm giải
quyết phải tiến hành xác minh làm rõ sự việc và trả lời cho người khiếu nại, tố
cáo chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày nhận được đơn, thư hoặc lời khiếu nại, tố
cáo đó.
Điều 32.
1. Người bị tạm giữ, tạm giam đã hoàn cung chờ
xét xử, chấp hành tốt nội quy Nhà tạm giữ, Trại tạm giam có thể được xét tăng gấp
đôi số lần gặp gỡ thân nhân và tăng gấp đôi số lần được gửi và nhận thư, nhận
quà.
2. Người bị tạm giữ có hành vi vi phạm nội quy
của Nhà tạm giữ, Trại tạm giam thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử
lý bằng một trong các hình thức sau :
- Cảnh cáo;
- Phạt cùm chân. Thời gian phạt cùm chân do Trưởng
Nhà tạm giữ, Giám thị Trại tạm giam quyết định nhưng không quá một tuần.
3. Người bị tạm giữ, tạm
giam vi phạm quy chế, nội quy của nhà
tạm giữ, trại tạm giam thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý bằng
một trong các hình thức kỷ luật sau :
- Cảnh cáo;
- Phạt giam riêng ở buồng kỷ luật từ 3 đến 12
7 ngày và có thể bị gia hạn
đến 12 ngày. Người bị phạt giam ở buồng kỷ luật có thể bị
cùm một chân. Thời gian bị cùm chân do Trưởng
Nhà tạm giữ, Giám thị Trại tạm giam quyết định, nhưng không quá 10 ngày. Không áp dụng hình thức kỷ luật cùm chân đối với
4. Người bị tạm giữ, tạm giam vi phạm nội quy
nhiều lần thì có thể bị hạn chế gặp thân nhân, gửi và nhận thư, nhận quà; đang
trong thời gian bị kỷ luật không được gửi và nhận thư, nhận quà, không được gặp
thân nhân cho đến khi họ chấp hành tốt nội quy Nhà tạm giữ, Trại tạm giam.
5. Việc thi hành kỷ luật đối với người bị tạm
giữ, tạm giam vi phạm Quy chế và nội quy nhà tạm giữ, trại tạm
giam do Trưởng Nhà tạm giữ, Giám thị Trại tạm giam quyết định bằng văn bản nội quy do Trưởng Nhà tạm giữ, Giám thị Trại tạm giam quyết định bằng
văn bản. Biên bản về việc vi phạm và quyết định hình thức kỷ luật được đưa vào
hồ sơ của người đó. Trong thời gian chấp hành kỷ luật, nếu
người bị kỷ luật có tiến bộ thì Trưởng nhà tạm giữ, Giám thị trại tạm giam xét
được giảm thời hạn kỷ luật.
Điều 33.
1. Người bị kết án tử hình được hưởng các tiêu
chuẩn về ăn, uống, khám, chữa bệnh, gửi, nhận thư, thăm gặp, nhận quà, khiếu nại,
tố cáo như những người bị tạm giữ, tạm giam, trừ trường hợp pháp luật có quy định
khác.
2. Trại tạm giam có trách nhiệm trả lại ngay tiền,
tài sản gửi lưu ký, đồ dùng cá nhân (nếu có) của người đã bị thi hành án
tử hình cho thân nhân hoặc cho người được ủy thác của người đó.
Điều 34. Chế độ tạm giữ, tạm
giam đối với người nước ngoài bị tạm giữ, tạm giam được áp dụng theo Quy chế
này, trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định
khác.
Chương V
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 35. Kinh phí phục vụ cho
việc quản lý, cải tạo, sửa chữa, xây dựng Nhà tạm giữ, Trại tạm giam, mua sắm
các phương tiện phục vụ giam giữ và chi phí ăn, mặc, ở, sinh hoạt, chữa bệnh
cho người bị tạm giữ, tạm giam, chi phí cho việc tổ chức chôn cất người bị tạm
giữ, tạm giam chết do ngân sách Nhà nước cấp theo dự trù hàng năm của Bộ Công
an và Bộ Quốc phòng. Bộ Tài chính chủ trì cùng Bộ Công an, Bộ Quốc phòng phối hợp
hướng dẫn thực hiện quy định này.
Điều 36.
1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương có trách nhiệm cấp đất, hỗ trợ kinh phí từ ngân sách địa
phương, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng và quản lý Nhà tạm giữ, Trại
tạm giam tại địa phương mình và chỉ đạo chính quyền sở tại tổ chức phối hợp bảo
đảm an ninh, an toàn cho Nhà tạm giữ, Trại tạm giam.
2. Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc
phòng quyết định cơ quan chuyên ngành quản lý hệ thống Nhà tạm giữ, Trại tạm
giam./.
TM. CHÍNH PHỦ
THỦ TƯỚNG
(ĐÃ KÝ)
Phan Văn Khải